
Hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm qua, những người lao động từ những tốp thợ quê tự do, đến hiệp thợ, phường thợ thủ công và thô sơ với các nghề như nề, mộc, cơ khí… đã kiến thiết nên nhiều công trình như đình chùa, cung điện, nhà ở… Là lực lượng lao động phi chính thức trong xã hội, vốn xuất thân từ nông thôn, ngày nay đã đóng vai trò là xương sống, góp phần kiến tạo phần lớn các công trình xây dựng ở đô thị và nông thôn Việt Nam.
Tuy nhiên, sự phát triển bùng nổ của thị trường lao động, xu hướng già hóa dân số và sự dịch chuyển lao động sang các khu công nghiệp, đại công trường… đang gây ra tình trạng khan hiếm nguồn lực này gay gắt. Đồng thời, khoảng cách về tác phong công nghiệp và kỷ luật an toàn lao động của nhóm thợ tự do đang trở thành điểm nghẽn không những đối với nhu cầu lao động của xã hội mà còn đặt ra trước yêu cầu phát triển hiện đại hóa của ngành Xây dựng, nếu muốn sử dụng nguồn nhân lực này nhằm đáp ứng tốc độ và quy mô xây dựng hiện nay.
Bài báo nghiên cứu các giải pháp chuyển dịch, nâng cấp lực lượng lao động xây dựng phi chính thức này trở thành lực lượng công nhân kỹ thuật chính quy, có kỹ năng nghề đạt chuẩn và tác phong công nghiệp… nhằm giải phóng và nâng tầm nguồn tài nguyên lao động, vừa đảm bảo đáp ứng các siêu công trình quốc gia, vừa có thể cung cấp nguồn lực lao động cho nhu cầu xã hội, vừa tạo sinh kế bền vững cho người dân tại các vùng miền nông thôn.
Nhiều thập kỷ qua, lực lượng lao động xây dựng tự do (LLLĐXDTD) ở Việt Nam phần lớn xuất thân và có gốc gác tại khắp các vùng miền nông thôn. Họ xa rời quê hương, đi khắp nơi, chủ yếu đến các đô thị, thành phố để sinh kế bằng các nghề chủ yếu như nề, mộc, cơ khí… có tính thời vụ ở các thời điểm nông nhàn, giáp hạt… Ly nông nhưng không ly hương, theo kiểu con lắc (đi về liên tục trong ngày hoặc ngắn ngày). Với mong ước cải thiện dần cuộc sống vốn thuần nông và với phương thức tổ chức hành nghề theo kiểu “cha truyền con nối” hay “thợ cả dắt thợ em” và được tổ chức tương đối bài bản khép kín từ trên xuống như “cai thầu”, thợ cả, thợ chính, thợ phụ, hậu cần nấu ăn… Lâu dần, nghề này trở thành nghề chính, có tính trụ cột với nam giới trong mọi gia đình.
Đồng thời, qua thời gian, các hiệp thợ, các tốp thợ đã trở thành nguồn nhân công phi chính thức (không qua trường lớp đạo tạo nghề) cho mọi công việc xây dựng, cải tạo sửa chữa nhà cửa không chỉ phục vụ nhu cầu của cả xã hội, mà còn tham gia đóng góp đáng kể vào xây dựng các công trình của quốc gia thông qua các hình thức thầu phụ, hoặc khoán việc thông qua các “cai thầu”…
Tuy nhiên, gần chục năm trở lại đây, nhất là tại thời điểm hiện nay, hiện tượng người dân muốn xây dựng, cải tạo nhà nhưng khó khăn không tìm được thợ quê, thợ tự do lành nghề. Lý do xuất phát từ sự dịch chuyển sâu sắc trong cơ cấu phát triển kinh tế và nhân khẩu học của toàn xã hội Việt Nam. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó bởi các nguyên do sau đây:
+ Kể từ năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN và đặc biệt năm 2006, ra nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Gần ba thập kỷ qua, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu về thương mại, đầu tư, không những giúp nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu, mà còn thể hiện rõ các cam kết hội nhập quốc tế, khu vực.
Trong bối cảnh đó, thị trường nhân công lao động có nhiều biến động và thay đổi, đặc biệt là LLLĐXDTD. Nhiều lao động xây dựng tự do có tay nghề và kỹ năng chuyên môn cao đã tham gia thị trường lao động nước ngoài bằng hình thức xuất khẩu lao động. Số đông đảo còn lại có xu hướng chọn làm công nhân nhà máy (điện tử, may mặc, da giày, cơ khí, dịch vụ xây dựng…) ở các khu công nghiệp, khu chế xuất ngay tại quê hương. Thu nhập có thể chưa cao, nhưng được gần gia đình, được đóng bảo hiểm, công việc ổn định, không phải dầm mưa dãi nắng và đi lại xa, cũng như rủi ro tai nạn lao động…
+ Đứt gãy thế hệ (lão hóa lực lượng lao động): phương thức truyền nghề truyền thống dựa trên quan hệ đồng hương, đồng môn, đồng cảnh đang dần biến mất. Triết lý “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà/ Cả ba việc ấy thật là khó thay” đã không còn là động lực duy nhất với thanh niên nông thôn nếu chỉ duy nhất trông chờ vào mưu sinh bằng nghề này. Những thợ cả lành nghề hiện nay đa số đã cao tuổi. Thế hệ trẻ không còn mặn mà với việc “đứng giàn giáo, xách xô vữa” do định kiến xã hội về nghề và sự vất vả đặc thù.
+ Các doanh nghiệp trong nước hoặc liên doanh với nước ngoài, đầu tư nhập khẩu hoặc sản xuất các đồ gia dụng hoặc các trang thiết bị, vật liệu hoàn thiện xây dựng như thang máy, máy điều hòa, máy bơm, tủ lạnh, máy giặt, đồ gỗ, vật liệu ốp lát sàn, trần, tường, vật liệu sơn… cũng đã thu hút một lực lượng lớn thợ tự do vào làm việc với quy trình khép kín từ cung cấp sản phẩm – lắp đặt – bảo hành, sửa chữa…
+ Sự bùng nổ của dòng vốn FDI và đầu tư công: các dự án hạ tầng lớn, khu đô thị đại chúng liên tục hình thành, thu hút một lượng lớn lao động xây dựng tự do vào làm thầu phụ, khoán việc thông qua các “cai thầu”. Lực lượng này tập trung về các đại công trường với các dự án xây dựng có quy mô lớn, khiến thị trường xây dựng nhà dân riêng lẻ bị bỏ trống.
Với nhu cầu về quy mô và tốc độ xây dựng như hiện nay của Việt Nam, không những của quốc gia mà cả thị trường xã hội – Việc đặt ra làm thế nào để có thể khai thác, tận dụng nguồn nhân lực này, mặc dù còn nhiều hạn chế về tác phong, kỷ luật lao động lẫn kỹ thuật theo hướng công nghiệp là việc hết sức cần thiết, cả về số lượng và chất lượng kỹ thuật nghề. Đặt ra cần phải có các giải pháp đồng bộ, khoa học và liên ngành.
Có thể thấy, đặc trưng tích cực nhất của LLLĐXDTD chính là ở sự khéo léo của từng cá nhân, liên kết số đông trở thành kỹ nghệ bản địa với từng nghề, khả năng thích ứng cao, đáp ứng linh hoạt các phân khúc của thị thường về nhân lực xây dựng.
Sự khéo tay của họ không phải là tự phát nhất thời, mà là sự tích lũy kỹ năng có tính kế thừa từ các thế hệ trước tại các vùng miền, địa phương. Đây là một lợi thế cạnh tranh cốt lõi của nhân lực xây dựng Việt Nam mà các trường nghề chính quy hiện nay chưa khai thác được. Tuy nhiên, mặc dù phân hóa kỹ năng rất rõ ràng và chất lượng tay nghề cá nhân cao, nhưng vì vận hành dưới dạng toán thợ, hiệp thợ phi chính thức, họ hoàn toàn thiếu năng lực quản lý tổ chức, quản lý an toàn lao động và không có tư cách pháp nhân để bảo vệ quyền lợi kinh tế chính đáng. Hơn thế, khoảng cách giữa năng lực hiện tại của thợ tự do và những yêu cầu đòi hỏi về tiến độ, kỷ luật và tác phong công nghiệp, công nghệ kỹ thuật, vật liệu mới của ngành Xây dựng hiện nay là rất lớn.
Thông qua quy luật di cư và tập trung hóa kỹ năng – LLLĐXDTD tại Việt Nam không phân bố đồng đều mà tồn tại dưới dạng các “vùng lõi cung ứng” gắn liền với lịch sử làng nghề. Sự dịch chuyển của họ tuân theo quy luật đồng hương kéo đồng nghề. Một người thợ cả lành nghề từ các vùng đất tổ nghề khi lên đô thị lập nghiệp sẽ kéo theo hàng chục, hàng trăm thanh niên nông nhàn, tạo thành các chuỗi cung ứng thầu phụ phi chính thức nhưng có tính chuyên môn hóa cao. LLLĐXDTD có thể được phân chia làm 4 nghề chính sau đây: (Hình 1)
+Thợ nề (thợ xây thô, đổ bê tông, hoàn thiện cơ bản): đây là lực lượng đông đảo nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong lao động phi chính thức. Nguồn cung của nhóm này chủ yếu đến từ các vùng thuần nông có mật độ dân số cao và quỹ đất nông nghiệp hạn chế. Nổi tiếng với sức bền, khả năng chịu gian khổ tốt, chuyên gánh vác các công đoạn nặng nhọc như cốp pha, cốt thép, đổ bê tông, thường có xu hướng gắn kết thành các “hiệp thợ gia đình”, chuyên nhận khoán trọn gói phần thô nhà ở dân dụng.
+ Thợ mộc (cốp pha gỗ, kết cấu mái, kiến trúc cổ truyền): mặc dù cốp pha nhôm và thép đang phổ biến ở các dự án lớn, nhưng trong xây dựng dân dụng và công trình văn hóa/tôn giáo, thợ mộc vẫn giữ vị trí độc tôn. Chuyên về kết cấu nhà gỗ cổ truyền như vì kèo, mái ngói; phục dựng công trình tôn giáo tín ngưỡng, hoặc thiên về cấu kiện hoàn thiện nội thất gỗ cao cấp gắn với công trình kiến trúc chạm khắc hoa văn tinh xảo, phục vụ trùng tu di sản hoặc các biệt thự cao cấp và trang trí kiến trúc…
+ Thợ sắt, thợ cơ khí xây dựng (cốt thép, kết cấu khung thép, nhôm kính): nghề này đòi hỏi sức khỏe và tư duy hình học trực quan cao hơn. Lực lượng này thường tập trung ở các địa phương có truyền thống nghề rèn hoặc gò hàn, cơ khí chế tạo. Thường là thợ sắt công trình, thợ hàn kết cấu thép, thợ nhôm kính hoàn thiện. Họ rất nhạy bén với bản vẽ kết cấu thép và lắp dựng giàn giáo cốp pha định hình.
+ Thợ hoàn thiện cao cấp (sơn bả, ốp lát, trần thạch cao, đá tự nhiên): đây là nhóm thợ đòi hỏi tính khéo tay cao nhất trong các loại hình nghề xây dựng phi chính thức, tiệm cận với trình độ nghệ nhân. Thu nhập của nhóm này thường cao hơn thợ nề và có xu hướng chuyên môn hóa sâu, đòi hỏi tính mỹ thuật khắt khe.
Trên cơ sở phân tích trên, có thể hệ thống hóa nguồn LLLĐXDTD phi chính thức theo địa bàn vùng miền, địa phương và phân loại phân khúc nghề nghiệp theo bảng sau đây (Bảng 1)
Với bản đồ hóa (mapping) LLLĐXDTD phi chính thức (tức là chưa qua trường lớp đào tạo nghề) theo địa bàn cư trú gốc và tính chất nghề nghiệp đặc trưng – có thể thấy tại Việt Nam, sự phân hóa này chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi yếu tố địa văn hóa, lịch sử làng nghề và đặc điểm di cư lao động theo vùng miền. Việc hiểu rõ tọa độ địa lý của nguồn lực này, giúp Nhà nước hoặc các tập đoàn lớn nếu muốn thực hiện chiến lược đào tạo, sẽ biết chính xác cần đặt các trung tâm thực hành kỹ năng ở đâu để đạt hiệu quả cao nhất mà không làm xáo trộn dòng di cư của họ.

Cũng giống như Việt Nam, ngay cả các quốc gia phát triển cũng từng hoặc đang phụ thuộc lớn vào lực lượng lao động phi chính thức, lao động di cư hoặc thợ tự do. Tuy nhiên, cách họ quản lý và chuyển đổi rất khác biệt. Lực lượng lao động này được coi như viên ngọc thô mang sẵn dòng máu tài hoa, khéo léo của người thợ. Cái họ thiếu là tư duy an toàn công nghiệp, kỷ luật lao động và sự tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật, vật liệu mới… Khi có một bệ đỡ chính sách hợp lý, nhằm biến các “hiệp thợ tự do” thành các “tổ đội chuyên nghiệp”, sẽ tạo ra một lực lượng hùng hậu, giải quyết tận gốc bài toán khát nhân lực chất lượng trong lĩnh vực xây dựng.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), lao động phi chính thức (Informal labor), là bao gồm tất cả các thỏa thuận việc làm mà không cung cấp cho người lao động sự bảo vệ theo luật pháp. Điều này có nghĩa, những người lao động trong ngành xây dựng có thể làm việc mà không có hợp đồng lao động chính thức, hoặc không được ghi nhận trong hệ thống quản lý lao động của nhà nước và không được hưởng các quyền lợi như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hay bảo hiểm thất nghiệp… Họ thường gặp phải nhiều rủi ro, bao gồm việc không có sự bảo vệ về pháp lý khi xảy ra tai nạn lao động hoặc tranh chấp với chủ sử dụng lao động. Họ cũng thường phải làm việc trong điều kiện không ổn định và thu nhập không đảm bảo…
Với những pháp lý trên, có thể tham khảo kinh nghiệm về khai thác sử dụng và tổ chức LLLĐXDTD tại một số quốc gia sau đây: (Hình 2)
+ Với các nước phát triển (Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc): được quản lý thông qua hệ thống Chứng chỉ hành nghề quốc gia và áp lực pháp lý từ phía bảo hiểm hay chính quyền. Ví dụ tại Đức (với hệ thống đào tạo kép nghề – Dual vocational training), bằng sự gắn kết giữa trường nghề, doanh nghiệp và áp lực từ hệ thống bảo hiểm hay chế tài pháp lý. Một người muốn làm thợ xây (nhỏ lẻ hay lớn) đều phải trải qua trường nghề kết hợp thực hành tại doanh nghiệp. Người dân Đức gần như không thể tự thuê một nhóm thợ vô danh vì nếu xảy ra sự cố, bảo hiểm sẽ từ chối đền bù và chủ nhà có thể bị phạt nặng vì sử dụng lao động bất hợp pháp hay trốn thuế.
Hoặc tại Nhật Bản (với hệ thống thầu phụ và nghiệp đoàn) – lực lượng thợ truyền thống (như thợ mộc xây nhà gỗ cổ truyền) được tôn vinh là nghệ nhân (Takumi). Với thợ xây dựng thông thường, Nhật Bản sử dụng hệ thống đánh giá kỹ năng nghề nghiêm ngặt. Lao động nông thôn hoặc lao động nước ngoài đều phải qua các nghiệp đoàn, được huấn luyện an toàn lao động bắt buộc trước khi bước chân vào công trường.

+ Với các nước đang phát triển (Trung Quốc, Ấn Độ): ví dụ Trung Quốc (mô hình quản lý “nông dân công”), với hàng trăm triệu lao động nông thôn đổ về thành thị xây dựng các siêu đô thị. Trung Quốc đã giải bài toán này bằng cách ràng buộc các tập đoàn xây dựng lớn, các nhà thầu phải có trách nhiệm đào tạo ngắn hạn tại chỗ, cấp thẻ an toàn và tích hợp họ vào hệ thống quản lý số (City Information Modeling – CIM và thẻ thông minh cá nhân) để kiểm soát dòng lao động và trả lương trực tiếp, tránh qua cai thầu trung gian ăn chặn.
Như vậy có thể thấy, bất luận LLLĐXDTD hành nghề đơn lẻ hay theo nhóm, đều phải qua đào tạo tối thiểu ở các doanh nghiệp hoặc trường nghề và phải có chứng chỉ hành nghề hợp pháp. Đây là bài học kinh nghiệm thực tiễn, có giá trị với Việt Nam, nếu chúng ta muốn thúc đẩy tốc độ và quy mô xây dựng hạ tầng, các đại đô thị… cũng như nhu cầu lớn của thị trường xã hội, trên cơ sở phát huy nguồn nhân lực dồi dào và giá trị này.

4.1. Xác định vị trí của LLLĐXDTD trong hệ thống nhân lực lao động của ngành Xây dựng
Có thể thấy, LLLĐXDTD tại Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện nay, đang đáp ứng phân khúc thị trường mà các nhà thầu lớn (hạng A, hạng B) không muốn hoặc không thể làm hiệu quả về chi phí như nhà ở riêng lẻ, cải tạo sửa chữa nhỏ, công trình vùng sâu vùng xa… Nếu tận dụng và “chuẩn hóa” được họ thông qua các hình thức đào tạo cơ bản ngắn hạn, ngành xây dựng sẽ giải quyết được cùng lúc 3 bài toán kinh tế – xã hội: nâng cao chất lượng và tốc độ xây dựng các công trình quốc gia và dân sinh, giảm thiểu tai nạn lao động và ổn định an sinh xã hội cho nông thôn.
Để làm được việc đó, cần đặt LLLĐXDTD như một tài nguyên quốc gia, lấy sự khéo léo bản năng của họ, tập hợp lại để trở thành kỹ nghệ bản địa làm gốc, lấy nhu cầu sinh kế bền vững làm động lực và lấy tác phong công nghiệp làm đòn bẩy. Nếu chúng ta làm được điều đó, Việt Nam sẽ sở hữu một “quân đoàn kiến thiết” cực kỳ hùng hậu. Họ vừa có sự tỉ mỉ, khéo léo của người thợ thủ công truyền thống, vừa có sự thần tốc, chính xác của người công nhân thời đại số. Họ không chỉ xây dựng nên những ngôi nhà cho làng quê của chính họ, cho nhu cầu của cả xã hội, mà còn là lực lượng chủ lực gánh vác các siêu dự án hạ tầng, đường cao tốc, đường sắt tốc độ cao, các đại đô thị… của đất nước trong những thập kỷ tới.
Để chuyển hóa một lực lượng lao động lớn vốn thuần nông, tự phát, khéo tay nhưng thiếu kỷ luật thành một đội quân tinh nhuệ, có tác phong công nghiệp đáp ứng tốc độ đô thị hóa và đại công trường hiện nay, chúng ta cần một hệ thống giải pháp đồng bộ từ thượng tầng thông qua cơ chế chính sách, đến hạ tầng thông qua sự vào cuộc và phối hợp của các cấp chính quyền địa phương, doanh nghiệp, hội nghề nghiệp…
4.2. Thiết lập hệ sinh thái trong chuỗi đào tạo và cung ứng nguồn nhân công lao động
Để đưa LLLĐXDTD từ phi chính thức sang chính thức, chúng ta không thể bê nguyên xi giáo trình của các trường trung cấp hay cao đẳng nghề để bắt họ đi học. Họ cần tiền để sống và hỗ trợ cho gia đình hàng ngày. Do đó, mô hình chuyển đổi khả thi phải dựa trên “thực tế hóa” và “thương mại hóa”. Sự khéo tay của người thợ Việt là tài sản, nhưng điểm yếu cố hữu là làm theo thói quen và kinh nghiệm cảm tính. Để đáp ứng tốc độ xây dựng hiện đại, cần phải chuyển hóa họ qua chuỗi đào tạo gồm 4 nội dung sau đây:
Xây dựng hệ sinh thái “vệ tinh vùng” trong đào tạo nghề
Chúng ta không thể kéo hàng triệu lao động về các thành phố lớn để đào tạo rồi trả về. Thay vào đó, cần mô hình “đào tạo tại chỗ, sử dụng tại chỗ và điều tiết liên vùng”, có thể ở các cấp độ và địa điểm như:
+ Thành lập các trung tâm thực hành kỹ năng xây dựng cấp vùng hay cấp tỉnh: đây không phải là trường nghề chính quy, mà là các sân chơi kỹ năng do Nhà nước đầu tư hạ tầng cơ bản, nhưng vận hành chủ yếu bởi các doanh nghiệp xây dựng và các nhà thầu lớn. Tại đây, người lao động nông thôn có thể đến đăng ký kiểm tra tay nghề, cập nhật công nghệ mới vào những tháng nông nhàn.
+ Xây dựng mạng lưới “HTX xây dựng kiểu mới”: gom các toán thợ nhỏ lẻ ở nông thôn thành các HTX xây dựng cấp tỉnh/thành phố/phường/xã. HTX này sẽ là pháp nhân đứng ra ký hợp đồng với các đại công trường, lo bảo hiểm, trang bị bảo hộ lao động và chịu trách nhiệm tổ chức quản lý kỷ luật. Đây chính là vùng đệm giúp người nông dân làm quen dần với môi trường quản lý công nghiệp trước khi bước vào các dự án lớn của doanh nghiệp hay Nhà nước. (Hình 3)
Công thức đào tạo nghề chuyển hóa từ “khéo tay” sang “kỹ năng chuyên sâu”
+ Mô-đun hóa giáo trình đào tạo (đơn giản và trực quan): không thể bắt những người lao động này học lý thuyết hàn lâm. Giáo trình phải được thiết kế thành các mô-đun kỹ năng cực kỳ ngắn gọn, trực quan (như sử dụng video, mô hình 3D, hoặc ứng dụng trên điện thoại). Ví dụ: mô-đun kỹ thuật xây gạch bê tông nhẹ, mô-đun đọc bản vẽ cốt thép, mô-đun kỹ thuật chống thấm cốt lõi… Học mô-đun nào, cấp chứng chỉ và thực hành ngay mô-đun đó.
+ Công nghiệp hóa công cụ lao động: tác phong công nghiệp không thể hình thành nếu người thợ vẫn dùng những công cụ thô sơ truyền thống. Cần có chính sách hỗ trợ (ví dụ qua các quỹ khuyến nông, tín dụng chính sách) để các tổ đội thợ tiếp cận với máy móc cầm tay hiện đại như máy cân bằng laser, máy phun vữa, giàn giáo thép thông minh thay cho giáo gỗ, giáo tre… Công cụ hiện đại tự khắc sẽ ép người lao động phải thay đổi hành vi và tư duy chính xác cho chính mình.
Trang bị tác phong công nghiệp từ nhu cầu thị trường và chuẩn mực công trường
Tác phong công nghiệp (đúng giờ, kỷ luật an toàn, quy trình nghiêm ngặt, ý thức bảo hộ…) không tự nhiên sinh ra từ mọi lời kêu gọi, nó chỉ được hình thành từ kỷ luật sắt của công trường và lợi ích kinh tế tương xứng.
+ Bộ tiêu chuẩn “Thẻ thông hành công trường”: các cơ quan quản lý cần phối hợp ban hành một quy định bắt buộc với mọi lao động khi bước vào công trường (dù là thợ phụ của thầu phụ), bắt buộc phải có thẻ an toàn và kỹ năng cơ bản. Thẻ này được tích hợp mã định danh (hoặc QR code). Nếu vi phạm kỷ luật an toàn hoặc làm ẩu, thẻ sẽ bị khóa trên hệ thống toàn quốc. Áp lực mất sinh kế sẽ buộc người thợ phải tuân thủ kỷ luật.
+ Cơ chế trả lương theo năng suất chất lượng công nghiệp: thay vì trả công nhật (vốn dung túng cho sự lười biếng hoặc kéo dài thời gian), hệ thống quản lý của các tổ đội phải chuyển triệt để sang khoán sản phẩm theo tiêu chuẩn kỹ thuật (như các yêu cầu về độ phẳng, độ sụt, tiến độ…). Khi người thợ hiểu rằng, nếu làm đúng quy trình, năng suất tăng gấp đôi, thu nhập tăng gấp đôi; nếu làm ẩu, phải tự bỏ tiền túi ra sửa, họ sẽ tự giác học và rèn dũa tác phong công nghiệp.
Vai trò then chốt của Nhà nước, các tập đoàn, doanh nghiệp lớn và hội nghề nghiệp
Chiến lược này không thể thành công nếu chỉ dựa vào sự tự vận động của thợ tự do. Nó cần sự hợp tác chiến lược và đồng bộ giữa Nhà nước, các tập đoàn và doanh nghiệp xây dựng, các tổ chức hội nghề nghiệp, ứng với vai trò vị thế và các hành động cụ thể dưới đây (Bảng 2)
4.3. Các giải pháp về đào tạo theo chuẩn công nhân kỹ thuật xây dựng
Trong hệ thống thang bảng lương và phân cấp kỹ thuật của ngành Xây dựng Việt Nam, công nhân kỹ thuật bậc 3 (3/7) được coi là bản lề. Ở cấp bậc này, người thợ không còn làm việc theo bản năng hay chỉ sai đâu đánh đó. Họ đã làm chủ được kỹ thuật cốt lõi, có khả năng đọc hiểu bản vẽ kỹ thuật độc lập, làm việc theo quy trình an toàn và hướng dẫn được cho thợ phụ (bậc 1, bậc 2).
Dựa trên nền tảng khéo tay sẵn có từ người thợ, việc đào tạo ngắn hạn theo mô-đun hoàn toàn có thể nâng cấp họ lên trình độ sơ cấp nghề tương đương công nhân bậc 3/7. Để áp dụng vào cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp xây dựng hiện đại, lực lượng sau đào tạo này sẽ được định danh lại thành các nhóm nghề kỹ thuật chính quy. Đây cũng chính là sự phủ nhận khi nhiều định kiến cho rằng lao động tự do nông thôn không thể làm công nhân xây dựng chính quy. Nó cho thấy chỉ cần một lộ trình đào tạo trúng đích, họ sẽ là nguồn tài nguyên vô giá của các doanh nghiệp xây dựng. Dựa trên bảng1 về các loại hình nghề truyền thống tiêu biểu – hệ thống hóa danh mục nghề nghiệp được sắp xếp và chia thành 4 nhóm chủ lực, đáp ứng với sự tương thích giữa kỹ nghệ bản địa và tiêu chuẩn công nghiệp (Bảng 3).
Dựa vào bảng phân chia này có thể thấy hoàn toàn không xóa bỏ sự khéo tay cốt lõi của người thợ (ví dụ thợ đá Thanh Hóa hay thợ mộc Thạch Thất), mà là chuẩn hóa và đặt tên mới cho các nhóm nghề dưới góc độ quản trị doanh nghiệp. Ví dụ từ “thợ đục đá” trở thành “công nhân chế tác và ốp lát đá di sản bậc 3”, nâng tầm vị thế xã hội và nghề nghiệp của người lao động.
Đồng thời, tách biệt giữa thợ đa năng và thợ chuyên sâu bởi thợ quê truyền thống thường cái gì cũng biết làm nhưng không sâu (vừa xây, vừa trát, vừa lát gạch, vừa sơn…). Khi vào doanh nghiệp xây dựng hiện đại, để đáp ứng tốc độ cao, họ phải được đào tạo theo hướng chuyên môn hóa cao vào một nhóm nghề cụ thể trong bảng để tối ưu hóa năng suất lao động. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ hoạch định được đơn giá khoán nội bộ dễ dàng thông qua xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật, áp dụng cơ chế khoán sản phẩm trực tiếp cho các tổ đội hay HTX vệ tinh, loại bỏ hoàn toàn việc chấm công nhật lãng phí và thiếu chính xác…

Hành trình chuyển hóa của LLLĐXDTD tại Việt Nam, xét cho cùng, là tấm gương phản chiếu sự vận động mang tính quy luật của nền kinh tế từ tự phát sang tự giác, từ tư duy tiểu nông đến tác phong công nghiệp. Việc lựa chọn chiến lược “Chính quy hóa lực lượng lao động xây dựng phi chính thức” không đơn thuần là một giải pháp tình thế nhằm lấp đầy khoảng trống nhân lực, mà là một bước đi mang tính cấu trúc, tạo ra tác động cộng hưởng đồng thời lên 3 hệ giá trị: Xã hội – Doanh nghiệp – Nông thôn.
Đối với nhu cầu xã hội, việc nâng cấp các hiệp thợ, tốp thợ tự do đạt chuẩn công nhân kỹ thuật sẽ giúp xã hội được thụ hưởng những công trình nhà ở an toàn hơn, chất lượng mỹ thuật cao hơn, giảm thiểu tối đa rủi ro tai nạn lao động nhờ tư duy an toàn và kỹ nghệ bản địa đã được hệ thống hóa bằng khoa học quản trị.

Đối với các doanh nghiệp xây dựng, việc chuyển đổi các toán thợ thành hệ sinh thái các HTX xây dựng, hay những doanh nghiệp vệ tinh siêu nhỏ, sẽ cung cấp cho các nhà thầu lớn một quân đoàn công nhân tinh nhuệ, vừa có sự khéo léo bản năng, vừa tuân thủ nghiêm ngặt tác phong lao động công nghiệp. Đây chính là động lực cốt lõi để các tập đoàn xây dựng tăng năng suất lao động, làm chủ công nghệ mới và đáp ứng tốc độ thần tốc của các siêu dự án quốc gia trong giai đoạn tới. Đối với an sinh xã hội vùng nông thôn, mô hình đào tạo mô-đun lưu động và sử dụng nhân lực theo mạng lưới tại chỗ, vệ tinh, chính là giải pháp tạo sinh kế bền vững “ly nông bất ly hương”. Việc chính quy hóa LLLĐXDTD giúp họ bám trụ với nghề bằng một vị thế xã hội được tôn trọng, có bảo hiểm, có thu nhập ổn định, giảm áp lực di cư tự do và giữ gìn các cốt lõi văn hóa làng nghề truyền thống.
Kỹ nghệ bản địa của người thợ Việt là một tài nguyên quý giá, nhưng chỉ có thể trở thành sức mạnh kiến thiết đất nước khi được đặt trên bệ đỡ của các cơ chế chính sách kiến tạo đồng bộ, được rèn giũa qua kỷ luật và kỹ thuật hiện đại tại các công trường. Khi hai dòng chảy này gặp nhau, nhu cầu thị trường xã hội và ngành Xây dựng Việt Nam không chỉ giải được bài toán cung cầu về nhân lực lao động, mà còn sở hữu một nền tảng nội lực nhân văn, đưa con người làm trung tâm của mọi sự phát triển bền vững.
Tài liệu tham khảo:
[1] Tổng cục Thống kê (2023) – Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2022: Thực trạng lao động phi chính thức tại Việt Nam. NXB Thống kê, Hà Nội.
[2] International Labour Organization – ILO (2018). Women and men in the informal economy: A statistical picture.
[3] BMBF – Federal Ministry of Education and Research (2022). The German Vocational Training System (Dual System): Structure, Function, and Transferability.
[4] Wang, M., & Zhang, X. (2020). “The Nongmingong (Migrant Peasants) on Chinas Mega-construction Sites: Institutional Management and Digital Tracking Systems.” – China Economic Review










bình luận